GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI TÌNH HÌNH NẮNG NÓNG

GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI TÌNH HÌNH NẮNG NÓNG

GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI TÌNH HÌNH NẮNG NÓNG

GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI TÌNH HÌNH NẮNG NÓNG

GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI TÌNH HÌNH NẮNG NÓNG
GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI TÌNH HÌNH NẮNG NÓNG
GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI TÌNH HÌNH NẮNG NÓNG
695 Lượt xem

Đối với nuôi tôm nước lợ

- Quản lý môi trường ao nuôi trước khi thả giống:

+ Cải tạo ao nuôi đúng quy trình kỹ thuật, áp dụng biện pháp an toàn trước khi thả tôm bằng cách sử dụng chế phẩm sinh học xử ký nước để đảm bảo sức khỏe tôm sau và giữ môi trường ổn định.

+ Đối với những ao nuôi có độ mặn hơn 30‰ không thích hợp cho sự phát triển của tôm nuôi, cần chủ động bổ sung nguồn nước ngọt, cấp nước từ ao lắng đã được xử lý cẩn thận. Sau đó kiểm tra và điều chỉnh các thông số môi trường (nhiệt độ, độ mặn, pH...) trong ngưỡng thích hợp trước khi thả tôm giống.

+ Nên duy trì pH ở mức thích hợp 7,5 - 8,5 và dao động giữa buổi sáng và buổi chiều không quá 0,5. Nếu pH thấp, có thể sử dụng vôi nông nghiệp CaCO3 (vôi canxi) liều lượng 10 - 15 kg/100 m2 rải đều khắp ao nuôi, bờ ao để tránh hiện tượng xì phèn làm giảm pH ao nuôi khi thời tiết chuyển mùa.

 

 

- Chọn và thả giống nuôi:

+ Lựa chọn giống tôm có nguồn gốc rõ ràng, thông qua xét nghiệm để đảm bảo âm tính với các bệnh nguy hiểm như: Bệnh còi, đốm trắng, đầu vàng, hoại tử gan tụy cấp tính, Taura.

+ Thả tôm giống nuôi với mật độ phù hợp với khả năng đầu tư của nông hộ, khuyến cáo thả mật độ < 20 con/m2 đối với tôm sú (cỡ giống PL15) và mật độ < 70 con/m2 đối với tôm thẻ chân trắng (cỡ giống PL12). Thuần độ mặn trước khi thả nuôi, đảm bảo độ mặn ở trại giống và ao nuôi không dao động quá 5‰. Thực hiện ương vèo trong thời gian 30 - 45 ngày trước khi san ra ao nuôi.

 

 

- Chăm sóc:

 + Thường xuyên theo dõi dự báo thời tiết để chủ động điều chỉnh và duy trì các yếu tố môi trường trong khoảng thích hợp, duy trì mực nước ao nuôi tối thiểu 1,3 - 1,5 m, nếu cần cấp nước bổ sung thì lấy từ ao lắng/ao chứa đã được xử lý cẩn thận. Đồng thời, duy trì chạy quạt để tránh hiện tượng phân tầng nhiệt độ, đảm bảo hàm lượng ôxy hòa tan trong ao nuôi duy trì > 3,5 mg/l.

+ Sau giai đoạn nắng nóng, thời tiết sẽ chuyển sang giai đoạn chuyển mùa, do vậy khuyến cáo người nuôi giảm 15 - 30% lượng thức ăn khi thời tiết thay đổi đột ngột; định kỳ 2 lần/tháng bổ sung vitamin, khoáng vi lượng, men tiêu hóa vào thức ăn cho tôm, mỗi đợt 5 - 7 ngày để tăng sức đề kháng, giúp tôm lột xác đồng loạt và nhanh cứng vỏ.

+ Định kỳ 10 - 15 ngày sử dụng các loại chế phẩm vi sinh để xử lý nước và đáy ao, ổn định lượng vi sinh có lợi trong ao nuôi. Thường xuyên kiểm tra hoạt động, hình dáng bên ngoài, gan, ruột... của tôm nuôi để kịp thời xử lý, đảm bảo hiệu quả.

Yến Nhi

Bài viết khác
Bài viết liên quan
Phân trắng là loại bệnh phổ biến trong tôm nuôi thường bắt đầu gặp từ thời điểm tôm nuôi được 50 ngày trở đi. Bệnh phân trắng khó trị dứt điểm và hiện nay vẫn chưa có một biện pháp cụ thể hữu hiệu nào điều trị hội chứng này.
Cá lăng (Ictalurus punctatus) là đối tượng thủy sản đã và đang được quan tâm ở các tỉnh miền Bắc cùng một số vùng ở khu vực miền Nam. Gần đây, một nghiên cứu mới được thực hiện với mục đích xác định tác nhân gây bệnh xuất huyết trên cá lăng, từ đó có những biện pháp trị bệnh hiệu quả.
Thỏ nuôi là loại gia súc yếu, sức đề kháng cơ thể kém, dễ cảm nhiễm các mầm bệnh và phát triển thành dịch do các yếu tố môi trường ngoại cảm gây nên. Khi mắc bệnh thỏ dễ chết, có khi chết hàng loạt, gây thiệt hại lớn cho người nuôi. Nếu nuôi thỏ mà không thực hiện đúng yêu cầu kỹ thuật, đặc biệt...
Ở nước ta vào mùa hè thời tiết oi bức, nóng nắng nhiệt độ thường lên cao 36-38 độ C gây bất lợi trong chăn nuôi, nhất là chăn nuôi tập trung, mật độ cao. Gia súc, gia cầm thường ăn kém, ốm yếu, sức đề kháng bị suy giảm mạnh, năng suất thịt, trứng giảm. Các loại dịch bệnh như: tiêu chảy, cảm nóng, cảm nắng,...
Kỹ thuật nuôi lợn Móng Cái đơn giản hơn so với những giống lợn khác vì giống này ưu điểm về tính thích nghi, khả năng tăng trưởng, khả năng sinh sản và nuôi con rất tốt.
Thường xuyên trực ở bên lợn nái là cần thiết để có thể hỗ trợ cho lợn khi thấy có các dấu hiệu chuyển dạ đẻ. Điều cần chú ý trong giai đoạn này là chỉ can thiệp khi cần thiết, để cho lợn được đẻ tự nhiên càng thoải mái càng tốt.
Khi một con bò biểu hiện bệnh viêm vú, hành vi của nó thay đổi và chất lượng sữa của nó cũng suy giảm. Người chăn nuôi có thể phát hiện những dấu hiệu của viêm nhiễm trong sữa khi bò đã được vắt ra, nhưng liệu có thể nhận ra những dấu hiệu của bệnh này theo những cách khác và sớm hơn hay không?
Về đầu trang