KỸ THUẬT NUÔI LỢN NÁI SINH CON

KỸ THUẬT NUÔI LỢN NÁI SINH CON

KỸ THUẬT NUÔI LỢN NÁI SINH CON

KỸ THUẬT NUÔI LỢN NÁI SINH CON

KỸ THUẬT NUÔI LỢN NÁI SINH CON
KỸ THUẬT NUÔI LỢN NÁI SINH CON
KỸ THUẬT NUÔI LỢN NÁI SINH CON
750 Lượt xem

Thường xuyên trực ở bên lợn nái là cần thiết để có thể hỗ trợ cho lợn khi thấy có các dấu hiệu chuyển dạ đẻ. Điều cần chú ý trong giai đoạn này là chỉ can thiệp khi cần thiết, để cho lợn được đẻ tự nhiên càng thoải mái càng tốt.

 

1. Nhận biết lợn nái sắp sinh

 

Căn cứ vào ngày phối giống có chửa để dự tính ngày đẻ dự kiến, thông thường lợn chửa 114 ngày.

 

Những ngày gần đẻ, lợn nái chửa bụng căng to, vú căng ra hai bên, có hiện tượng sụt mông (do giãn khớp xương chậu). Lợn nái sắp sinh thường đi lại nhiều, bồn chồn; đái dắt (tiểu mót), đi phân lắt nhắt nhiều chỗ; cào ổ: cào chân vào nền chuồng, cắn song chuồng hay máng ăn; âm hộ nở to, tiết dịch nhờn màu hồng.

Ảnh minh họa

 

2. Chăm sóc lợn nái sắp sinh, trong khi sinh

 

2.1. Chăm sóc lợn nái sắp sinh

 

* Công việc chuẩn bị trước khi lợn nái sinh

 

– 2 tuần trước khi sinh: vệ sinh sát trùng chuồng trại, diệt ký sinh trùng ngoài da để tránh lây ghẻ và nhiễm giun sán cho lợn con theo mẹ ngay từ những ngày đầu sau khi mới sinh ra.

 

– Trước khi đưa lợn nái vào chuồng sinh: tẩy uế sạch sẽ, khử trùng toàn bộ nền chuồng, ô chuồng, sàn chuồng, thành chuồng nái sinh bằng chất khử trùng và được để trống chuồng tối thiểu 7 ngày trước khi chuyển lợn nái vào.

 

– Khoảng 5 – 7 ngày trước khi sinh: tắm rửa nái sạch sẽ bằng xà phòng rồi chuyển vào chuồng sinh, chuyển cho nái ăn thức ăn dành cho lợn nái nuôi con nhằm giúp lợn nái quen với chuồng nái sinh và thức ăn dành cho nái nuôi con.

 

– Ngày lợn sinh có thể không cho ăn để tránh sốt sữa nhưng phải cung cấp đầy đủ nước sạch cho uống.

 

– Tắm cho lợn nái trước khi sinh, lau sạch bầu vú và âm hộ nhằm tránh nguy cơ lợn con sơ sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc với lợn mẹ.

 

– Chuẩn bị ổ úm cho lợn con: Sàn được lót bằng rơm hoặc cỏ khô sạch, vải… treo bóng đèn điện (cách sàn 0,5 – 0,6 m) để cung cấp nhiệt. Bóng đèn có thể là bóng điện 100W, tốt hơn có thể dùng bóng đèn hồng ngoại công suất 250W (ngoài tác dụng sưởi ấm, đèn hồng ngoại còn có tác dụng diệt khuẩn trong ô chuồng lợn con).

 

* Chuẩn bị dụng cụ và thuốc thú y

 

– Dụng cụ: Kéo, panh, kìm bấm nanh, bấm đuôi, chỉ nilon dùng buộc rốn, đèn úm, khăn lau bằng vải xô mềm và sạch để lau cho lợn con, đèn pin, cân…

 

– Thuốc thú y: cồn iod 2%, xanh methylen, oxytocin, thuốc trợ sức, vitamin B1, vitamin C, thuốc cầm máu, thuốc tím,…

 

2.2. Chăm sóc lợn nái trong khi sinh

 

Thường xuyên trực ở bên lợn nái là cần thiết để có thể hỗ trợ cho lợn khi thấy có các dấu hiệu chuyển dạ đẻ như vú căng và sữa bắn thành tia đã hơn 2 giờ, lợn đã nằm xuống, không còn đứng lên nằm xuống liên tục, âm hộ ra phân xu và dịch màu hồng, lợn nái rặn từng cơn là lợn con sắp ra.

 

Điều cần chú ý trong giai đoạn này là chỉ can thiệp khi cần thiết, để cho lợn được đẻ tự nhiên càng thoải mái càng tốt. Lợn nái tơ thường đẻ khó hơn lợn nái rạ.

 

Bình thường cứ sau mỗi cơn rặn mạnh, lợn nái co chân sau lên là lợn con được mẹ rặn đẩy ra ngoài.

 

Thường mỗi lợn con đẻ ra cách nhau khoảng 15-20 phút, mỗi ổ lợn đẻ hoàn tất khoảng 2 – 5 giờ và ra nhau khoảng 2 – 3 giờ sau khi đẻ con cuối cùng (hoặc cũng có nái vừa đẻ vừa ra nhau).

Ảnh minh họa

* Thực hiện đỡ đẻ lợn

 

– Rửa sạch bằng xà phòng và sát trùng tay người đỡ đẻ bằng cồn, mang găng tay (vô trùng). Cần giữ yên tĩnh khi lợn nái đang đẻ.

 

– Khi lợn nái đẻ, có thể đầu lợn con ra trước hoặc 2 chân sau ra trước.

 

– Lợn con tự làm rách màng nhau và lọt ra ngoài, ta đón lấy lợn con. Trường hợp lợn con sinh bọc, cần nhanh chóng xé màng nhau để lợn con khỏi bị ngạt.

 

– Nắm chặt cuống rốn để tránh xuất huyết sau khi đứt rời với cuống nhau còn trong bộ phận sinh dục của lợn nái.

 

– Lấy khăn sạch và mềm để móc hết những chất nhầy trong mũi và miệng ra, giúp lợn hô hấp dễ dàng, tiếp theo lau toàn thân rồi đến 4 chân.
Nếu lợn con bị ngạt phải làm hô hấp nhân tạo bằng cách: Dùng hai ngón tay xoa mạnh từ trên xuống dưới dọc theo xương sống phía hai bên phổi để kích thích hô hấp hoặc để lợn con nằm ngửa đưa hai chân trước của lợn lên xuống nhịp nhàng, thổi vào miệng lợn con.

 

+ Có thể dùng thuốc trợ tim tiêm cho lợn con.

 

+ Nếu nặng hơn thì ngâm mình lợn con vào nước ấm (30 – 35 độ C) trong 30 – 60 giây rồi đem ra hô hấp nhân tạo tiếp, lợn con có thể phục hồi nhanh hơn.

 

– Dùng chỉ nilon buộc rốn cách thành bụng khoảng 4cm.

 

– Dùng kéo đã được sát trùng cắt cách nút buộc 1cm, sát trùng bằng bông y tế nhúng cồn iốt 2% hay xanh methylen sát trùng chỗ cắt, mỗi ngày bôi rốn 2 lần cho đến khô. Hiện nay, một số trại người ta không buộc và cắt rốn, dùng Mistral rắc lên để tự khô và rụng (chỉ buộc rốn khi có chảy máu nhiều).

 

* Trường hợp lợn nái đẻ khó

 

Các trường hợp đẻ khó:

 

– Lợn nái vẫn rặn đẻ nhiều lần trong khoảng 30 – 45 phút, nhưng không đẻ được.

 

– Lợn nái đã đẻ nhưng sau trên 1 giờ chưa đẻ con tiếp theo.

 

Nguyên nhân lợn nái đẻ khó có thể do: thai quá to, thai không thuận, thể trạng lợn nái quá yếu không đủ sức rặn đẻ…

 

Trong trường hợp lợn nái đẻ khó cần phải có sự trợ giúp. Không được vội vàng sử dụng thuốc kích thích đẻ ngay mà cần thực hiện từng bước sau:

 

– Cắt ngắn móng tay, rửa tay bằng xà phòng, sau đó thoa nhẹ lên tay một ít vadơlin, chụm thẳng 5 đầu ngón tay, nhẹ nhàng đưa vào qua âm đạo theo nhịp rặn đẻ của lợn nái.

 

– Dùng các đầu ngón tay lần tìm lợn con để xác định thai thuận hay ngang.

 

– Nếu là thai ngang thì nhẹ nhàng chỉnh theo hướng thai thuận và lôi từ từ ra ngoài.

 

– Nếu không phải là thai ngang thì lúc đó mới tiêm thuốc oxytocin (oxi-tô-xin) hoặc lutalyse và thuốc trợ lực cho lợn nái (Liều sử dụng theo chỉ dẫn của nhà sản xuất).

 

Nếu chưa có kinh nghiệm, nên mời cán bộ thú y can thiệp giúp.

 

TS. Nguyễn Thị Liên Hương

Nguồn: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Bài viết khác
Bài viết liên quan
Phương pháp quản lý ao nuôi thời điểm thời tiết nắng nóng hiện nay
Phân trắng là loại bệnh phổ biến trong tôm nuôi thường bắt đầu gặp từ thời điểm tôm nuôi được 50 ngày trở đi. Bệnh phân trắng khó trị dứt điểm và hiện nay vẫn chưa có một biện pháp cụ thể hữu hiệu nào điều trị hội chứng này.
Cá lăng (Ictalurus punctatus) là đối tượng thủy sản đã và đang được quan tâm ở các tỉnh miền Bắc cùng một số vùng ở khu vực miền Nam. Gần đây, một nghiên cứu mới được thực hiện với mục đích xác định tác nhân gây bệnh xuất huyết trên cá lăng, từ đó có những biện pháp trị bệnh hiệu quả.
Thỏ nuôi là loại gia súc yếu, sức đề kháng cơ thể kém, dễ cảm nhiễm các mầm bệnh và phát triển thành dịch do các yếu tố môi trường ngoại cảm gây nên. Khi mắc bệnh thỏ dễ chết, có khi chết hàng loạt, gây thiệt hại lớn cho người nuôi. Nếu nuôi thỏ mà không thực hiện đúng yêu cầu kỹ thuật, đặc biệt...
Ở nước ta vào mùa hè thời tiết oi bức, nóng nắng nhiệt độ thường lên cao 36-38 độ C gây bất lợi trong chăn nuôi, nhất là chăn nuôi tập trung, mật độ cao. Gia súc, gia cầm thường ăn kém, ốm yếu, sức đề kháng bị suy giảm mạnh, năng suất thịt, trứng giảm. Các loại dịch bệnh như: tiêu chảy, cảm nóng, cảm nắng,...
Kỹ thuật nuôi lợn Móng Cái đơn giản hơn so với những giống lợn khác vì giống này ưu điểm về tính thích nghi, khả năng tăng trưởng, khả năng sinh sản và nuôi con rất tốt.
Khi một con bò biểu hiện bệnh viêm vú, hành vi của nó thay đổi và chất lượng sữa của nó cũng suy giảm. Người chăn nuôi có thể phát hiện những dấu hiệu của viêm nhiễm trong sữa khi bò đã được vắt ra, nhưng liệu có thể nhận ra những dấu hiệu của bệnh này theo những cách khác và sớm hơn hay không?
Về đầu trang